I. TÊN
GỌI:
Hoà
Lạc, tên rất đẹp; Hoà là hoà thuận;
Lạc là vui vẻ. Năm 1829, ông Nguyễn Công
Trứ lập ra huyện Kim sơn, và đặt tên
cho các làng.
1. Làng
Hoà Lạc:
Có
từ năm 1829. Chiều dài 10 cây số, phía
Bắc lên bên trên Đường quan, khu đất này
gọi là Đồng lĩnh, giáp giới đồng
làng Phúc Nhạc. Phía Nam xuống qua đường 10
ra đến đê Ngự Hàm. Gọi là "Ngự
Hàm" nghĩa là "chống nước mặn".
Năm
1830, ông Nguyễn Công Trứ xắng đắp đê
Đường quan, phía Đông từ Phụng Công
qua các làng sang phía Tây đến Hảo nho. Ong Trứ
rất khôn ngoan: v́ cho đào rất nhiều sông
để thau chua, rửa mặn, ruộng nước
cấy được cói, rồi cấy lúa sau. Ong
lại khôn ngoan: phân chia các làng kề ngang có 3 đạc
(180 m), hoặc một đạc rưỡi (90 m), làng
to có 4 đạc (240m) để đo ruộng mau chóng.
Thế này: lấy một cái gậy dài hai mét mang
đi đo, làng ngang 3 đạc th́ đo 10 gậy là
một mẫu ruộng, làng ngang 4 đạc th́ đo
7 gậy rưỡi là một mẫu ruộng.
Cho nên
các làng huyện Kim Sơn cảm phục và nhớ
ơn ông Nguyễn Công Trứ, đă xây miếu
thờ ông ở làng Lạc Thiện sát Đường
10 và hàng năm cúng giỗ kỷ niệm.
Nên
biết thêm: cái gậy 2 mét nói trên gọi là "cái
ngũ". V́ "ngũ" chữ Nho là 5, nghĩa
là 5 thước ta; mỗi thước ta dài 0m40,
vậy năm thước ta là hai mét. Dùng cái ngũ
đi đo ruộng rất tiện lợi mau chóng.
2.
Họ
Hoà Lạc
Ong
Nguyễn Công Trứ cũng rất khôn ngoan, khi
xếp các hộ dân đến ở các làng mới
lập. Ong đă xét đến Tôn giáo của dân: người
cùng một Tôn giáo ở cùng nhau dễ sinh hoạt.
Vậy xếp người đi lương ở
với nhau, người đi giáo ở với nhau.
Nhiều làng toàn dân đi giáo, nhiều làng khác toàn
dân đi lương. Nếu làng "xôi đỗ",
nghĩa là có cả lương cả giáo, th́ xếp
dân đi giáo vào mấy xóm này, xếp dân đi lương
vào mấy xóm kia. Giỏi tâm lư thật !
Nhiều
gia đ́nh đi giáo ở một làng hợp lại
th́ thành ra "Họ đạo". Năm 1829 có
làng Hoà Lạc th́ cũng chung quanh năm ấy có
"họ Hoà Lạc". Bấy giờ các Họ
từ Tŕ Chính lên đến Như Sơn đ̣ 10
đều thuộc về xứ Phúc Nhạc, cho nên
họ Hoà Lạc cũng thuộc về xứ Phuc
Nhạc. Từ 1842 ăn về xứ Tôn Đạo.
Họ Hoà Lạc đi giáo gần toàn ṭng, chỉ có
mấy gia đ́nh đi lương ở giữa làng,
bên trên nhà thờ.
3.
Xứ
Hoà Lạc
Năm
1912, Đức cha Thành (Marcou) lập ra xứ Hoà
Lạc bởi giáo xứ Tôn đạo chia ra. Cha Phêrô
Vinh đang làm pho xứ Tôn đạo về làm chính
xứ Hoà Lạc.
Bấy
giờ chỉ có hai họ đaọ, là họ
Trị sở Hoà Lạc và họ Chí Tĩnh. Về
sau có họ Thái Hoà ở bên ngoài sông An, do cha Vinh
lập. Gần đây thêm họ Xuân Hoà ở ngoài
đồng giáp đê Ngự Hàm, đời cha Phêrô
Phúc kiêm coi xứ Hoà Lạc.
II. CÁC
HỌ TRONG XỨ
Như
vừa nói: xứ Hoà Lạc nay có 4 họ.
1.
Họ
Trị sở
Họ
Hoà Lạc là họ to, được chon làm họ
Trị sở, địa điểm nhà xứ để
cha xứ ở và quản trị xứ. Họ Hoà
Lạc thành lập chung quanh năm 1829 cùng với làng
Hoà Lạc, như đă nói ở trên.
2.
Họ
Chí Tĩnh
Là
họ lẻ ở làng Chí Tĩnh, họ này cũng thành
lập năm 1829 cùng với các làng, các họ
thuộc huyện Kim Sơn. Đầu tiên họ này
ăn về xứ Phúc Nhạc, từ 1842 có xứ Tôn
Đạo th́ ăn về xứ Tôn Đạo. Đến
1912 chia xứ Hoà Lạc th́ họ Chí Tĩnh ăn
về xứ Hoà Lạc.
3.
Họ
Thái Hoà
Ngày xưa
gọi là "Trại" v́ có ít người,
ở bên kia sông An. Về sau dân ra nhiều th́
được lập họ lẻ gọi là họ Thái
Hoà, đời cha Phêrô Vinh chính xứ Hoà Lạc, năm
nào không biết.
4.
Họ
Xuân Hoà
Dân di cư
dần ra phía Bể đến gần đê Ngự Hàm.
Khi đă đông người th́ lập ra họ
lẻ Xuân Hoà, đời cha Phêrô Phúc kiêm coi xứ
Hoà Lạc, không biết năm nào. Họ này tương
đối mới, chưa có nhà thờ họ. (Thực
ra, nay giáo họ Xuân Hoà đă co nhà nguyện nhỏ,
để Ḿnh thánh thường xuyên. Nhà nguyện này
do cha Gioan B. Bùi Văn Kế xây dựng).
III.
CÁC
NHÀ THỜ
1. Nhà
thờ họ trị sở, rồi thành nhà xứ
từ năm 1912. Nhà thờ này làm bằng gỗ,
nhỏ như nhà thờ xứ Dục Đức
hiện nay. Cuối nhà thờ cũng xây mặt
tiền, kiểu như nhà thờ xứ Dục Đức.
Hai bên làm cửa bằng gỗ tạp, năm 1930, tôi
đă thấy cũ kỹ và mọt ăn nhiều. Nhà
thờ này đang chờ được rỡ đi,
và xây dựng lại.
2.
Nhà
thờ xứ hiện nay
Nhà
thờ này xây bằng gạch to lớn, với hai hàng
cột tṛn, có cả cây tháp cao với quả chuông tây
lớn. Trên cung thánh xây 3 toà cao to: Đức Mẹ
ở giữa, Trái Tim Chúa và Thánh Giuse hai bên. Ở bàn
thờ cạnh, phía Nam, có toà ông thánh Phêrô quan thày
họ và xứ Hoà Lạc, bên kia, phía Bắc, có toà
bà thánh Têrêsa Hài đồng Giêsu, quan thày các nơi
truyền giáo.
Nhà
thờ có trần từ đầu. Về sau trần
hỏng th́ cha Phêrô Phúc sửa lại chắc
chắn hơn, năm 1983.
3.
Nhà
thờ họ Chí Tĩnh
Nhà
thờ cũ ngày xưa bằng gỗ, tôi không
biết. Nhà thờ mới hiện nay xây bằng
gạch, theo kiểu nhà thờ xứ Tôn Đạo ,
đời cha già Vinh. Xây năm nào? Muốn biết th́
đến xem nhà thờ, trông lên xà nhà xem họ có
viết niên hiệu không, hoặc hỏi các ông trùm
trưởng, các cố có nhớ năm xây nhà
thờ này.
4.
Nhà
thờ họ Thái Hoà
Nhà
thờ này xây dựng do cha già Vinh. C̣n năm nào th́
đến xem nhà thờ, hoặc hỏi các ông trùm trưởng
có biết th́ mách giúp ta.
IV.
CÁC
CHA XỨ
1. Cha già
Phêrô Đỗ Đ́nh Vinh sinh năm 1872 quê
ở họ Tiên Lư xứ Đạo Truyền (Hà
nội), chịu chức linh mục năm 1910, làm phó
xứ tôn Đạo. Đến năm 1912 về
mở xứ Hoà Lạc làm chính xứ. Năm 1922 có
cha Cửu đang làm phó xứ và rửa tội cho cha
Sỹ mới sinh năm ấy. Năm 1932, có cha
Phụng đang làm phó xứ. Con mấy cha phó nữa
không biết.
Cha già
Vinh xây nhà pḥng xứ, xây nhà thờ họ Chí Tĩnh
và Thái Hoà.
Năm
1932, cha đổi về làm Quản hạt xứ Cách
Tâm. Năm 1948, cha hưu trí ở xứ Dục Đức.
Năm 1954, cha về nhà thương Phú Vinh, và qua
đời ở đấy ngày 26-10-1955, hưởng
thọ 83 tuổi, mộ chôn ở đất thánh nhà
chung Phát Diệm.
2. Cha già
Phêrô Trần Đức Tuân sinh năm 1891 quê
ở xứ Tam Tổng(Thanh hoá), chịu chức linh
mục năm 1924 một lớp với Đức cha
Phùng và 4 cha nữa. Năm 1932, cha đang làm phó
xứ Cách Tâm, th́ đổi về làm chính xứ Hoà
Lạc. Đến năm 1937, cha đổi về
xứ Yên B́nh? Năm 1954 cha về xứ Tôn Đạo,
kiêm coi xứ Khiết Kỷ và xứ Thuần Hậu.
Cha qua đời ngày 07-02-1966 hưởng thọ 75
tuổi, chôn tại đất thánh Tôn Đạo.
Cha là
anh ruột bà Anna Hương, dong Mến Thánh giá Phát
Diệm. Bà ấy làm bà Mẹ 1937-1950 ở Lưu Phương,
và 1954-1960 ở G̣ Vấp- Sài G̣n.
3. Cha
Phêrô
Đỗ Xuân Thính sinh độ năm 1904 quê
ở xứ Hoài Lai, chịu chức linh mục năm
1934 một lớp với Đức cha Giuse Thanh và 4
cha nữa. Cha làm phó xứ Hướng Đạo
1934-1936. Năm 1936 đổi về làm phó xứ Hoà
Lạc. Năm 1937 làm chính xứ thay cha già Tuân.
Người
có công rất lớn là xây nhà thờ xứ năm
1938 đến giữa năm 1939 khánh thành. Có các cha này
làm phó kế tiếp nhau: Phanxicô X. Ngọ, Phaolô Đệ,
Phêrô Điện (Rôma), Simon Duy.
Năm
1948 người đổi lên chính xứ Như Sơn.
Năm 1954 đi Nam và qua đời 1988, hưởng
thọ 84 tuổi. (Phần mộ của ngài nay
nằm tại nền thánh giá đất thánh xứ
Thánh Mẫu (Bảo Lộc).
4. Cha
Bênađô
Nguyễn Quang Nhung sinh 14-08-1913, quê ở họ Tuy
Lai, chịu chức linh mục 09-11-1942.
Cha làm
phó xứ Mưỡu Giáp 1942-1945; phó xứ Phát
Diệm 1945-1946; chính xứ Hiếu Thuận 1946-1948; chính
xứ Hoà Lạc 1948-1949- tṛn 1 năm, rồi 1949 đổi
về Phát Diệm làm Tuyên uư các đoàn Thanh niên
địa phận đến năm 1954 đi Nam.
Hiện nay, 2004, cha đă 91 tuổi, đă mừng
Ngọc Khánh Linh mục, và ở An Dưỡng
viện G̣ Vấp.
5. Cha
Phanxicô
X. Phạm Quang Minh sinh năm 1898, quê ở Quân Triêm,
là anh ruột cha Phạm Bá Cử, chịu chức linh
mục 1930. Cha làm phó xứ rồi chính xứ B́nh Hoà,
chính xứ khoan Dụ, Quảng Phúc. Năm 1948, nhà
thờ Cách Tâm bị cháy, cha về sửa nhà thờ
giúp cha cố Vinh. Năm 1949, cha làm chính xứ Hoà
Lạc có một năm, đến 1950 lại lên
xứ Khoan Dụ.
Năm
1954, cha lại về B́nh Hoà, rồi Cách Tâm và ở
đấy đến khi qua đời ngày 09-09-1966 hưởng
thọ 68 tuổi, được chôn ở đất
thánh Quân Triêm.
6. Cha
Phêrô
Đoàn Độc Thư, sinh độ năm 1900,
quê ở họ Thượng Khu, xứ Hướng
Đạo, là anh ruột cha Giuse Đoàn Phi Hùng. Cha
chịu chức linh mục năm 1931, làm cha giáo
Chủng viện Phúc Nhạc, rồi Thượng
Kiệm, làm Tuyên uư các Hội đoàn chung địa
phận.
Năm
1950 cha về làm chính xứ Hoà Lạc đến 1952,
có cha Giuse Hiệp làm phó xứ giúp cha. Năm 1954 cha
đi Nam và qua đời trong ấy, năm 1976, hưởng
thọ 76 tuổi.
7. Cha
Gioan
Hương sinh độ năm 1902, chịu
chức linh mục 1933 một lớp 6 cha mới. Cha làm
phó xứ Như sơn, làm chính xứ Phúc Hải và
có công lớn xây nhà thờ xứ ấy. Năm 1952,
cha về làm chính xứ Hoà Lạc, có cha Giuse tụng
làm phó. Năm 1954, cha đi Nam và qua đời lúc nào
không biết.
8. Đức
cha Giuse Nguyễn Thiện Khuyến sinh 1900 quê
xứ Mỹ Điện ( Thanh Hoá), linh mục ngày
05-04-1930.
Người
làm phó xứ Khiết Kỷ 1930, mở xứ Hoàng Mai
1933, chính xứ Hiếu Thuận 1938, Văn Hỉa
1946, Tŕ Chính 1949, Phúc Hải 1952. Năm 1954, về Hướng
Đạo, kiêm Ứng Luật, Hoà Lạc, Phú Hậu.
Năm 1966, kiêm thêm Tôn Đạo, Khiết Kỷ,
Thuần Hậu.
Năm
1974, người về Phát Diệm làm cha chính, thay
Đức cha Thanh mới qua đời. Ngày 24-04-1977,
Người thụ phong Giám mục phó Phát Diệm,
vẫn đi các xứ đă nói để làm lễ
Chúa nhật, lễ trọng, cho đến khi qua đời
đột ngột 15-12-1981.
Như
thế, người kiêm coi xứ Hoà Lạc 27 năm.
9. Đức
cha Phaolô Bùi Chu Tạo, giám mục Phát Diệm,
kiêm coi xứ Hoà Lạc từ năm 1981, có cha Phêrô
Nguyễn Quang Phúc làm phó ở Phát Diệm và đi
đi về về Hoà Lạc.
Năm
1988 cha Giuse Trần Vawn Khoa thụ phong linh mục ngày
25-09 và ở quê hương Hoà Lạc làm phó xứ
cho đến năm 1994 đổi về làm chính
xứ Sào Lâm. (Nay đang làm chính xứ Phúc Nhạc,
kiêm thêm ba xứ B́nh Hoà, Tam Châu và Gia Lạc).
Đức
cha Giuse Nguyễn Văn Yến là Giám mục phó, kiêm
xứ Hoà Lạc từ 1994 đến 1996.
10. Cha
Gioan
B. Bùi Văn Kế thụ phong linh mục 1996 ở Phát
Diệm, kiêm phó xứ Hoà Lạc. Đến 2001 cha
về làm chinh xứ Hướng Đạo, kiêm coi
Ứng Luật, Hoà Lạc.
Cha
Gioan B. Bùi Văn Kế quê xứ An Ngải. Ngày
02-03-2004, cha đổi về làm chính xứ Hoà
Lạc, kiêm coi xứ Phú Hậu và Thuần Hậu.
V.
CÁC
CHA QUÊ HƯƠNG
1. Cha
Gioan Trần Duy Hoà là linh mục đầu tiên quê Hoà
Lạc. Cha sinh ra độ năm 1902, là con ông cố
Trần Văn Trữ. Bà cố cha là người
họ Duy Hoà sinh được có mấy người
con rồi chết sớm, mộ chôn ở đất
thánh Hoà Lạc. Ong cố lấy bà vợ thứ hai
quê ở họ Đồng Đắc xứ Hướng
Đạo, và đến chung sống với nhau
tại Đồng Đắc.
Năm
1933, cha Hoà thụ phong linh mục, một lớp
với cha Hương nói ở trên kia, và 4 cha nữa,
tất cả là 6 cha mới. V́ gia đ́nh ở
Đồng Đắc, nên ông cố tổ chức
ăn mừng ở Đồng Đắc. Hoà Lạc
không bằng ḷng, nói rằng: �Cụ Đồng
Đắc!� cho nên có ít người đi ăn
mừng đám này !
Cha Hoà
làm cha phó xứ Tŕ Chính 1933- 1934, cha phó xứ Hảo
Nho 1935-1936. Đến năm 1937, cha đổi về
Phương Thượng làm cha chính xứ đầu
tiên. Cha xây nhà pḥng, nhà các thày, các chú, nhà cơm, nhà
kho, nhà bếp. Cha mua nhiều gạch chuẩn bị làm
nhà thờ mới.
Năm
1945 cha đổi về xứ Hiếu Thuận. Đến
năm 1951 cha ốm yếu nghỉ dưỡng
bệnh ở xứ Tân Mỹ, và năm 1954 đi Nam,
rồi qua đời trong ấy không biết năm nào.
2. Cha
Luca Trần Hùng Sỹ là linh mục thứ hai quê Hoà
Lạc. Cha chịu chức linh mục ngày 12-06-1953, và
Đức cha Tađêô Lê Hữu Từ cho phép cha
về ăn mừng to ở quê hương, v́ chưa
có bao giờ ăn mừng cha nào ở Hoà Lạc. Cha
Sỹ khai khoa.
3. Cha
Antôn Trần Văn Cẩm là linh mục thứ ba quê
Hoà Lạc. Cha sinh độ năm 1924, là con ôngt
cố Vượng gốc tổ ở Cộng
Nhuận xứ Quyết B́nh. Bà cố Vượng quê
Hoà Lạc là con ông cố Huân, nhà ở cuối nhà
thờ Hoà Lạc. Hai ông bà cố và gia đ́nh đều
sống ở đấy.
Cha
Cẩm là con cố Nhạc (Réminiac) thuộc giáo
phận Thanh Hoá, đă học Chủng viện Ba làng
và Chủng viện Xuân Bích Ha nội. Cha thụ phong
linh mục độ năm 1954 rồi đi Nam, và qua
đời sớm, thọ bốn năm mươi
tuổi. Không biết năm nào, v́ cha mắc bệnh
lao, tiêm thuốc nóng bị ù tai giảm thính lực.
Cha có bà
chị ruột là bà Isave T́nh, ḍng Mến Thánh giá Phát
Diệm. Bà T́nh đă làm bà Nhất, rồi làm bà Cai,
ngày nay gọi là Tổng Quản �lư ở Lưu
phương. Bà ấy đi Nam và qua đời
17-01-1989 thọ 80 tuổi.
Nói
lại về ông cố Huân chơi diều Khổng
lồ. Chính mắt cha già Sỹ, khi c̣n bé, đă xem
thấy chiếc diều Khổng lồ và ông cố
Huân c̣n sống cơ. Chiếc diều dài hơn 2 mét,
với bộ sáo khổng lồ, chỉ bay lên
trời được khi có gió to băo lớn. Thú chơi
độc đáo thật. Khi băo lớn, người
khác lo chống nhà khỏi đổ, th́ ông cố Huân
điều khiển đội quân mang diều ra đâm
trong mưa gió băo, mời lang nước nghe bộ sáo
khổng lồ kêu trầm hùng, đời người
có vài lần.
4. Cha
Mátcô
Trần Xuân Thành là linh mục thứ bốn quê Hoà
Lạc. Cha sinh ra ngày 17-08-1930, là con ông bà cố Chánh
Khảm, là cháu ông cố Phó Khoản. Cha già Sỹ,
khi c̣n bé, đă xem thaays ông bà cố Phó Khoản, và
ông bà cố Chánh Khảm.
Chú Thành
ở nhà xứ Hoà Lạc giúp lễ cha Phêrô Đỗ
Xuân Thính là cha xứ, rồi đi học Chủng
viện phúc Nhạc và Chủng viện Thượng
Kiệm. Năm 1954, thày Thành đi Nam, và thụ phong
linh mục ngày 07-03-1959 làm mục vụ ở miền
Nam. Năm 1975, cha Thành đi sang Mỹ quốc, làm
mục vụ bên ấy và qua đời 28-04-2001,
thọ 71 tuổi.
Cha Thành
đă về thăm Hoà Lạc 1997, từ nước
Mỹ xa xôi, và tổ chức ăn mừng ở nhà
xứ. Cha là ân nhân lớn của xứ Hoà Lạc:
đă giúp tiền xây ao hồ, xây tường bao
quanh nhà thờ, làm cổng sắt, xây núi Đức
Mẹ Lộ Đức và Hang đá Giáng sinh.
5. Cha
Gioan Nguyễn Như Yêng là linh mục thứ năm quê
Hoà Lạc. Cha là con ông bà cố Lới. Ong cố
Lới là con ông Trương Soạn ở họ Thái
Hoà. Bà cố Lới tên cái là cô Thục, con ông bà
Hội Ky ở Hoà Lạc. Bà Hội Ky có họ
với cha già Sỹ.
Sau khi
kết bạn với nhau, ông bà cố Lới ở nhà
bà Hội Ky măi đến năm 1954 đi Nam. Chính
quyền xă trưng dụng khu nhà này làm Trụ
sở Uỷ ban xă, rồi sau bán cho ông cố
Tựa là bố thày Thực, đang c̣n ở bây
giờ 2004.
Chỉ
biết cha Yêng thụ phong linh mục năm 1968. Các
điều khác: học tập Chủng viện, làm
mục vụ ở trong Nam thế nào: xin viết thơ
hỏi cha Yêng kể ra.
Cha Yêng
giỏi khá: cha đă ra Phát Diệm giảng tuần Tĩnh
tâm các cha, từ ngày 3 đến 6 tháng 9 năm 2001, và
đến làm lẽ ở Dưỡng Điềm.
6. Cha
Tôma
Phượng là linh mục thứ 6 quê Hoà Lạc. Cha
là con ông bà cố Long. Ong cố Long là con ông Trùm
Bộp. Cùng gia đ́nh, cha đi Nam, học tập và
thụ phong linh mục năm 1975. Các điều khác hăy
viết thư hỏi cha, v́ cha già sỹ không
được thông tin không biết.
7. Cha
Giuse Hoàng Minh Thắng
Là
thứ 7 quê Hoà lạc. Cha là con ông bà cố giáo
Tiễn. Ông cố tiễn là con ông chánh Khương
đă làm lư trưởng và phó trương. Ông
cố Tiễn làm ông giáo dạy học trường
Tư thục xứ Hoà lạc. Ông tránh Khương là
con ông chánh Đăng, nhà ở đầu giong Nhà
thờ Hoà lạc, gần bờ sông.
Bà cố Tiễn tên cái là cô Đào, là con ông bà chánh
trương Bài. Ông trương Bài là con ông trùm
Chức, bà trương Bài là con ông cựu Mỹ.
Cùng gia đ́nh chú Thắng đi Nam khi c̣n bé, học
tập giỏi, đi du học ở Roma, chịu
chức Linh mục năm nào không biết. (Thụ
phong Linh mục: 24/04/1977). Cha Thắng không hề
về nước, nhưng ở lại Roma, tham gia
Đài Vaticanô của Toà thánh, làm phát ngôn viên nói
tiếng Việt vào Đài. Các điểm khác xin
hỏi Cha ấy kể ra.(Các dữ kiện khác, xin
xem thêm bên Danh sách các tu si Hoà Lạc).
8. Cha
Giuse Trần Văn Khoa
Là linh mục thứ 8 quê Hoà lạc. Cha sinh năm 1960
là con ông cố Giáo, là cháu ông trùm Huấn. Bà cố
Giáo là con ông trùm Bính.
Sau khi học tập ở ngoài Bắc, thày Khoa vào Nam
học Thần học, rồi trở về Phát
diệm và thụ phong Linh mục ngày 25-09-1988 do Đức
Cha già Tạo truyền chức một lớp với
Cha Antôn Phan Văn Tự.
Cha làm mục vụ ở quê hương Hoà lạc ít
lâu rồi đổi lên xứ An ngải trước,
xứ Sào lâm sau. Cha đă tổ chức ăn
mừng Khánh thành Nhà thờ xứ An ngải do cha
Gioan B. Dũng xây. Về Sào lâmCha đă sửa Nhà
thờ xứ và nhà pḥng đẹp đẽ khang
trang hơn trước.
Đến tháng 08 năm 1999 Cha đổi về chính
xứ Phúc nhạc, kiêm các xứ Nam biên, Gia lạc,
Tam châu và B́nh hoà. Cha đă xây mới nhà thờ Gia
lạc đẹp đẽ hơn xưa, khánh thành năm
2004.
Cha Khoa có họ máu với Cha già Sỹ: v́ là cháu
chắt của hai bà tổ là chị em ruột bà
mục Liễu là chị, bà trùm Đạt là em. Bà
mục Liễu sinh bà trùm Huấn là con, bà trùm
Huấn sinh ông cố Giáo là cháu, ông cố Giáo sinh
cha Khoa là chắt.
Bà trùm Đạt sinh bà cố Khang là con, bà cố
Khang sinh cha già Sỹ là cháu. Vậy cha Sỹ ngang hàng
với ông cố Giáo, cho nên cha Khoa phải gọi cha
già Sỹ là chú họ.
9. Cha Giuse Trần Đức Dậu
Là Linh
mục thứ 9 quê làng và xứ Hoà lạc, nhưng
ở họ Thái hoà bên kia sông đê Ân giang. Cha
Dậu là con ông cố Bốn, là cháu ông trùm
Khiết.
Cha già Sỹ chỉ biết được có vậy.
Các điều khác: tên thánh, tên họ Cha là ǵ? Năm
sinh, học tập, năm chịu chức Linh mục và
làm mục vụ thế nào? Hăy hỏi Cha ở
miền Nam.
(Giuse Trần Đức Dậu
Sinh:
1945
Thụ
phong Linh mục: 1972
Chính
xứ Thanh Hải, Phan Thiết).
10. Cha
Antôn Trần Ngọc Bách
Linh
mục thứ 10 quê Hoà lạc. Cha sinh năm 1960, là
con ông cố Hồng, là cháu ông chánh Khảm, là
chắt ông phó Khoản. Số 4 trên kia đă nói Cha
Thành là con ông cố chánh Khảm, là em ông cố
Hồng: nên Cha Bách gọi Cha Thành là chú ruột. Gia
đ́nh hạnh phúc, v́ được hai Linh mục
chú cháu.
Thày Bách nhận cha Phêrô Phúc là nghĩa phụ, đi
học Chủng Viện Hà nội 6 năm, đi giúp
xứ 1 năm, và thụ phong Linh mục ngày 1-1-2004 là
Tết Tây, do Đức Cha Giuse Yến truyền
chức tại Nhà thờ lớn Phát diệm, một
lớp 9 Cha mới.
Cha Bách được Toà Giám mục sai về làm chính
xứ Như tân kiêm xứ Tùng thiện, từ đầu
tháng ba năm 2004.
VI.
CÁC
TU SỸ
1. Các
Thầy giúp xứ Hoà lạc.
Nhiều lắm, mấy chục Thầy, chỉ c̣n
biết những thầy này: Giuse Khâm, phêrô Quí, Gioan
Vi, Phêrô Hiền, Phao lô Thất và Phêrô Mai sau đă
xuất về gia đ́nh; thầy 4 chức Gioan
Trực, thầy Gioan B. Duỵ, Antôn Sử, thầy Phêrô
Long và thầy cuối cùng đang giúp xứ năm
1954 đi Nam. Thầy Long ở lại, sau đó về
Nhà chung Phát diệm.
Thầy Phêrô Phan Văn Long quê ở Phương Trung
xứ Phát diệm, sinh năm 1889, lĩnh bằng
thầy giảng năm 1914, năm 1964 thầy đă
mừng Kim khánh thầy giảng và qua đời năm
1968 hưởng thọ 79 tuổi, chôn Đất thánh
Nhà chung. Thầy đă có công trông coi thợ xây
nhiều nhà thờ to trong giáo phận, như nhà
thờ trường thử Tŕ chính vvv?
2.
Thầy quê Hoà lạc là thầy Mathêu Ngô Phúc
Thừa, con ông bà mục Liễn.
Thầy sinh năm
1904, lớn lên vào ở nhà xứ với cha ǵa Vinh là
nghĩa phụ. Đi học các Chủng viện Ba làng,
Phúc nhạc, Thượng kiệm. Thầy đă
học xong Triết lư, v́ ốm yếu ra giúp xứ.
Thầy đă làm Giám thị( Xưa gọi là ông già
Đốc) trường thầy giảng Phát diệm
lâu năm. Sau ra giúp xứ Cách tâm, Khiết kỷ,
đi Nam và qua đời ngày 28-12-1979, hưởng
thọ 75 tuổi. Thầy Thừa có họ máu với
cha Sỹ và cha Khoa.
3.
Các
Chủng sinh quê Hoà lạc
Năm
2004 các Thầy này học Chủng Viện Hà nội:
1. Phêrô
Nguyễn Văn Hiện, sinh năm 1969, con ông
cố Kiệm
2.
Giuse Trần Công Hoan, sinh năm 1966, con ông cố
Minh
3.
Vinhsơn Trần Minh Thực, sinh ngày 23-10-1971, con ông
cố Tựa
4.
Giuse Nguyễn Cao Hoàn, sinh ngày 12-09-1978, con ông cố
Thảo
5. Phêrô
Trần Văn Phàn, sinh ngày 03-06-1979, con ông cố Hà.
VII.
CÁC
NỮ TU
Các
Nữ tu quê Hoà lạc, thuộc ḍng Mến Thánh giá.
1. Ḍng
Mến Thánh giá Phát diệm:
- Bà
Isave Ly con ông phó Viết, nặng tai sống lâu
nhất.
- Bà
Isave Tĩnh con ông cố Vượng, chị cha
Cẩm, làm bà Nhất ở nhà lẻ, rồi làm bà
Cai( Tổng Quản lư) ở nhà mẹ. Bà qua đời
ngày 17-1-1989 hưởng thọ 76 tuổi.
- Bà
Isave Trần Thị Nhẫn, sinh năm 1918 học trường
Sainte Marie Hà nội, đỗ Brevet đầu tiên
của Ḍng, đi Nam làm Bà Mẹ từ 1960 đến
ngày qua đời 24-4-1984 là đúng 4 khoá liền. Bà
đă đi Roma họp Hội nghị các bà Mẹ các
Ḍng thế giới, gặp Đg Hoàng Phaolô VI. Bà
Tổng Thanh là con thiêng liêng bà mẹ Nhẫn. Khi qua
đời bà mẹ Nhẫn thọ 66 tuổi bà là con
ông bà tràm Sắc.
-
Hiện nay có mấy chị trẻ đang học
tập hoặc đă khấn.
2. Ḍng
Mến Thánh giá Thanh hoá
- Bà
Maria Diệm là con ông bà quản Ninh, đi tu ḍng
Mến Thánh giá Thanh hoá, làm bà Mẹ, đă qua đời.
3. Ḍng
Mến Thánh Xuân lộc
- Bà
Thục là chị, bà Sâm là em, con ông bà mục
Hạp, đi Nam tu ḍng Mến Thánh giá Giáo phận Xuân
lộc. Bà Sâm lam bà Mẹ. Bà Thục đă về thăm
quê hương Hoà lạc.
(Về
các linh mục, tu sĩ Hoà lạc, xin xem thêm Danh sách
Tu sĩ Hoà Lạc ).
VIII.
CÁC
ÔNG CHÁNH PHÓ TRƯƠNG
* Người
họ Trị sở
a. Các ông
này làm Chánh trương:
Ông trương
Tới, ông trương B́nh, ông trương Bích có
bộ râu dài đến rốn.
Ông
tổng Ninh làm Chánh tổng và làm Chánh trương.
Ông trương
Hiến dâng tiền lợp một mái Nhà thờ
xứ và mua Kèn tây lập ra Hội kèn đồng.
Ông trương
Bài đang làm Chánh trương th́ đi Nam.
Ông
cố Khang là thân sinh cha già Sỹ.
Ông trương
Kư, ông trương Nhâm.
Ông trương
Đường là con ông Mạnh Ca đoàn.
Các ông
này làm phó trương:
Ông trương
Khương là bố ông giáo Tiễn và là ông nội
cha Thắng đang ở Roma.
Ông trương
Minh, ông trương Hà.
* Người
họ Chí tĩnh:
Ông trương
Tùng làm phó trương đời cha già Vinh.
Ông trương
Hiển đang làm Chánh trương.
* Người
họ Thái hoà:
a. Các
ông này làm phó trương:
Ông trương
Soạn là ông nội Cha Yêng ở Sài g̣n.
Ông trương
Cạnh, ông trương Tập.
Ông trương
Đường.
Ông này
làm Chánh trương: Ông trương Tuyển.
TỔNG
KẾT
Phong
cảnh cổ thụ
Ngày xưa
có câu ca dao:
"Hoà lạc có bóng cây đa
Ai đi
đến đấy, cửa nhà đều quên!"
Cây đa rất to trồng ở Đường 10, giáp
giới hai làng Hoà lạc và Như độ. Cây này
rất to v́ ra nhiều cành phụ chống xuống
đất, thành một khóm đa rất lớn, dưới
bóng mát có hàng nước cho lữ khách nghỉ ngơi
giải khát lấy sức lại trước khi
tiếp tục đi đường.
Bên cạnh về phía Hoà lạc có cây Đề
một thân cũng rất to, như cái cột Nhà
thờ Phát diệm. V́ ngày xưa ngướ ta quen
trồng cây Đa và cây Đề đi với nhau.
Về sau mở Đường 10 rông ra: 2 cây này
bị chặt hết trong năm 1974. Thật đáng
tiếc: mất cây cổ thụ hơn 100 tuổi,
phong cảnh mất cổ kính!!!
Chùa Hoà
lạc
Bên trên
cây Đa và cây Đề vừa nói, có Chùa thờ
Phật, có ông sư trụ tŕ. V́ làng Hoà lạc có
một ít đồng bào đi lương, bên lương
xây Chùa như bên giáo xây Nhà thờ. Đúng chính sách
của Nhà nước ta là: tự do tín ngưỡng,
tự do Tôn giáo, và tự do thay đổi Tôn giáo.
Cho nên anh em bên lương được tự do
đi Đạo theo bên Giáo, tôn thờ Thiên chúa là
Đấng tạo thành trời đất và nhân
loại cách riêng.
Cha già
Luca Trần Hùng Sỹ 83 tuổi, là đàn anh đi trước
viết ra những trang sử này trối lại cho
hậu thế, đàn em kế tiếp viết thêm ra.
Mục đích là để cho hậu sinh, con cháu
biết Lịch sử quê hương Hoà lạc nhà ta,
hầu vui mừng tạ ơn Chúa đă cho chúng ta
sống trong khung cảnh tốt đẹp này.
Chúng ta
hăy sống "hoà thuận vui vẻ", như tên
gọi "Hoà lạc" rất đẹp. Chúng
ta có thể tự hào hiên ngang với những thành tích
quê hương đă lập được. Chúng ta hăy
lập thêm nhiều thành tích mới, để quê hương
ngày cành hoà thuận vui vẻ tốt đẹp hơn
nữa.
Chúng ta
hăy kiếm, hăy chụp, hăy góp nhiều tranh ảnh vào
quyển Lịch sử Hoà lạc này; để sách
thêm phong phú và hấp dẫn bạn đọc hơn.
Mong c̣n
nhiều ảnh khác chụp về Nhà thờ, Nhà
xứ, Nhà Giáo lư, Đất thánh và ảnh các Cha, các
thầy, Ban chấp hành xứ v.v.?
Nhà Hưu
Phát diệm
Ngày
22-10-2004
Cha già
Luca
Trần Hùng Sỹ.
*
V́ muốn giữ nguyên
bản của tác giả, nên xin tạm thêm một số chi tiết trong ngoặc
để vấn đề được rơ ràng hơn. (VH)